Dòng họ duy nhất Việt Nam có hơn 30 vị vua với 2 lần nắm quyền trị vì đất nước gần 400 năm
Đó là dòng họ Lê, một dòng họ lớn, khởi phát từ Thanh Hóa, có ảnh hưởng sâu rộng trong lịch sử phong kiến Việt Nam. Tính cả 2 giai đoạn là Tiền Lê và Hậu Lê, dòng họ này gắn liền với tiến trình lịch sử dân tộc trong hàng trăm năm, trở thành triều đại lâu dài bậc nhất của chế độ quân chủ tại Việt Nam.
Dòng họ Lê - Thủy tổ của người Việt
Sử sách ghi lại rằng họ Lê Việt Nam là một trong những dòng họ đặc trưng của dân tộc Lạc Việt, đã định cư ở đất Thanh Hóa và Ninh Bình từ lâu đời. Đặc biệt các vị vua và danh nhân họ Lê, những vị thủy tổ của nhiều chi phái họ Lê ở nước ta đều xuất xứ trên đất Lạc Việt, không có ai xuất xứ từ Trung Quốc. Ở Việt Nam chỉ có một dòng họ Lê duy nhất, chiếm khoảng 11-15% dân số (theo trang Họ Lê Việt Nam).
Theo Gia phả họ Lê, dòng họ này được coi là thủy tổ của người Việt từ thời khai sinh lập địa bắt đầu với dân tộc Lạc Việt. Theo sách "Lễ hội và Danh nhân lịch sử Việt Nam", Thục phán An Dương Vương là người dòng họ Lê ở Mỹ Đức, Hà Nội. Cuối thời Hùng Vương thứ 18, năm 258 trước Công nguyên, Thục phán lên ngôi xưng là An Dương Vương, bỏ Quốc hiệu Văn Lang, đổi tên là Âu Lạc, đóng đô ở Đông Kinh, xây thành Cổ Loa. Thục phán An Dương Vương được tôn là thủy tổ của dòng họ Lê.
Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, cùng trăm họ, họ Lê đã đóng góp công sức, tài năng, trí tuệ và xương máu để xây dựng và bảo vệ giang sơn Việt Nam. Dòng họ Lê đã có đến 2 lần lập ra triều đại: nhà Tiền Lê trị vì 29 năm (980-1009), vị vua mở đầu cho nhà Tiền Lê là Lê Hoàn. Xét về danh nghĩa chính thống, triều Hậu Lê được xem là vương triều tồn tại lâu dài nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam, kéo dài khoảng 355 năm. Triều đại này được chia thành hai giai đoạn rõ rệt: thời Lê sơ (1428-1527) kéo dài 99 năm và thời Lê Trung Hưng (1533-1789) kéo dài 256 năm. Vua mở đầu cơ nghiệp của nhà Hậu Lê là Lê Thái Tổ (Lê Lợi).
Khu di tích Lam Kinh - Cổ đô xưa của triều đại Hậu Lê
Triều đại khởi phát từ vùng đất “quê vua đất chúa”
Thanh Hóa được mệnh danh là "quê vua, đất chúa" hay "đất đế vương chung hội" vì là nơi phát tích của nhiều dòng vua, chúa nhất Việt Nam bao gồm 44 đời vua qua các triều đại Tiền Lê, Hồ, Hậu Lê, cùng chúa Trịnh và chúa Nguyễn, nhà Nguyễn.
- Vùng đất địa linh nhân kiệt: Thanh Hóa không chỉ có vua chúa mà còn là nơi xuất thân của nhiều vị anh hùng, danh nhân văn hóa.
- Câu vè nổi tiếng: Câu nói dân gian lưu truyền ngàn năm rằng "Vua xứ Thanh, thần xứ Nghệ" khẳng định vị thế đặc biệt của Thanh Hóa trong lịch sử phong kiến Việt Nam.
Trong đó, họ Lê đã đóng góp hơn 30 vị vua góp phần tác động sâu sắc đến lịch sử phát triển đất nước Việt Nam thời kỳ phong kiến.
Chi tiết các giai đoạn vua họ Lê:
- Nhà Tiền Lê (3 vị vua): Lê Đại Hành (Lê Hoàn), Lê Trung Tông, Lê Long Đĩnh.
- Nhà Hậu Lê (28 vị vua): Bao gồm thời Lê Sơ (10 đời vua) và Lê Trung Hưng (16-17 vị vua, tính cả vua không chính thống).
- Vua nổi bật: Lê Thái Tổ (Lê Lợi - sáng lập), Lê Thánh Tông (thời hoàng kim).
- Vua trị vì lâu nhất: Lê Hiển Tông (46 năm, 1740–1786)
Khởi đầu của họ Lê trong vai trò vương triều là thời Tiền Lê (980-1009), do Lê Hoàn (Lê Đại Hành) sáng lập. Thông tin từ Báo Thanh Hóa có viết, Lê Hoàn (941-1005) quê ở Xuân Lập, Châu Ái (nay là Thọ Xuân, Thanh Hóa).
Ông xưng đế vào năm 980, đặt niên hiệu là Thiên Phúc, quốc hiệu là Đại Cồ Việt, đóng đô tại Hoa Lư, ổn định tình hình nội bộ, rồi chia quân phòng giữ các nơi hiểm yếu.
Theo Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, Lê Đại Hành là ông vua có công lao lớn trong việc đánh bại quân Tống, giữ vững nền độc lập của Đại Việt, đồng thời tiến hành chinh phạt Chiêm Thành. Ông cũng đưa ra nhiều chính sách tiến bộ, đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, tổ chức lễ cày tịch điền hàng năm để khuyến khích nhân dân sản xuất nông nghiệp, cho quân sĩ đào đắp nhiều kênh, đê, mở mang đường sá… Ông là người đầu tiên tổ chức đào sông. Công trình đào sông của nhà Lê đến nay là di tích lịch sử.
Tượng đồng Anh hùng dân tộc Lê Đại Hành Hoàng đế. Ảnh: Đại biểu Nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
Giữa năm 1005, vua Lê Đại Hành qua đời. Miếu hiệu vẫn là Đại Hành Hoàng đế. Ông ở ngôi 24 năm, thọ 65 tuổi. Trong 24 năm làm vua, ông đặt niên hiệu: Thiên Phúc (980-988); Hưng Thống (989-993); Ứng Thiên (994-1005).
Nhà Tiền Lê còn có 2 đời vua khác là Lê Trung Tông (tức Lê Long Việt), lên ngôi năm 1005 và chỉ trị vì 3 ngày. Vua Lê Long Đĩnh (tức Lê Ngọa Triều) lên ngôi từ 1005-1009. Như vậy, nhà Tiền Lê tồn tại tổng cộng 29 năm.
Tiếp đó, nhà Lê sơ (1428-1527) được các sử gia đánh giá là giai đoạn phát triển rực rỡ của chế độ phong kiến Việt Nam. Triều đại này hình thành sau thắng lợi của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo, mở ra thời kỳ củng cố nền độc lập dân tộc và xây dựng chính quyền trung ương tập quyền vững mạnh. Lê Lợi quê cũng ở Thọ Xuân, thuộc tỉnh Thanh Hóa ngày nay.
Ngay từ buổi đầu, triều Lê đã đề cao tư tưởng “lấy dân làm gốc”, coi đây là nền tảng trong cả quản lý đất nước lẫn tổ chức quân sự. Trong giai đoạn này, tình hình chính trị ổn định, kinh tế phát triển và văn hóa hưng thịnh. Đặc biệt, dưới thời Lê Thánh Tông, bộ máy nhà nước đạt đến mức hoàn thiện cao, thể chế quân chủ chuyên chế được củng cố chặt chẽ, đưa quốc gia bước vào thời kỳ cực thịnh. Thế nên mới có câu ca dao lưu truyền trong dân gian rằng: "Thời vua Thái Tổ - Thái Tông, Thóc lúa đầy đồng trâu chẳng buồn ăn" ngụ ý ca ngợi thời kỳ thái bình thịnh trị, nền nông nghiệp nước ta phát triển rực rỡ, nhân dân được sống trong cảnh ấm no, an vui.
Theo một số tài liệu, triều Hậu Lê có số lượng vua nhiều nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam, với khoảng 26, 27 vị vua. Trong đó, thời Lê sơ có khoảng 10 vị vua (một số tài liệu tính 11), thời Lê Trung Hưng là 16 vị vua.
Các vua thời Lê sơ gồm: Lê Thái Tổ, Lê Thái Tông, Lê Nhân Tông, Lê Thánh Tông, Lê Hiến Tông, Lê Túc Tông, Lê Uy Mục, Lê Tương Dực, Lê Chiêu Tông và Lê Cung Hoàng. Đây là thời kỳ quyền lực tập trung hoàn toàn trong tay hoàng đế, đồng thời cũng là giai đoạn tiêu biểu cho sự hưng thịnh của chế độ phong kiến Việt Nam.
Một số tài liệu bổ sung thêm Lê Nghi Dân, người từng giành ngôi sau khi lật đổ Lê Nhân Tông. Tuy nhiên, do thời gian trị vì rất ngắn và bị các đại thần phế truất vì bị coi là không chính danh, ông thường không được tính là vị vua chính thống của nhà Lê sơ.
Tượng thờ Anh hùng dân tộc Lê Lợi. Ảnh: Internet.
Sang thời Lê Trung Hưng, quyền lực thực tế của vua suy giảm do sự chi phối của các chúa Trịnh nhưng triều đại vẫn duy trì về mặt danh nghĩa với 16 vị vua. Cụ thể là Lê Trang Tông, Lê Trung Tông, Lê Anh Tông, Lê Thế Tông, Lê Kính Tông, Lê Thần Tông, Lê Chân Tông, Lê Huyền Tông, Lê Gia Tông, Lê Hy Tông, Lê Dụ Tông, Lê Duy Phương, Lê Thuần Tông, Lê Ý Tông, Lê Hiển Tông và Lê Chiêu Thống.
Trong số các vị vua triều Lê, có 2 vua được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp vào danh sách 14 vị anh hùng tiêu biểu của Việt Nam là Lê Hoàn và Lê Lợi.
Triều đại thịnh vượng trong lịch sử phong kiến Việt Nam
Tài liệu từ Bảo tàng Lịch sử Quốc gia cho thấy, mặc dù quyền bính thăng trầm không dứt nhưng triều đại Hậu Lê có những đóng góp tích cực cho sự phát triển của đất nước và để lại dấu ấn sâu đậm trong xã hội trên mọi phương diện.
Di tích lịch sử kênh nhà Lê. Ảnh: Internet.
Một trong những dấu ấn nổi bật của Hậu Lê là sự phát triển mạnh mẽ trong lĩnh vực pháp luật. Đây là triều đại ban hành nhiều bộ luật nhất trong lịch sử phong kiến nước ta. Nổi bật có thể kể đến “Luật thư”, “Quốc triều luật lệnh” (đều ban hành năm 1442), “Lê triều quan chế” (1471), “Quốc triều hình luật” (1483), “Thiên Nam dư hạ tập” (1483), “Hồng Đức thiện chính thư” (1497), “Quốc triều điều luật” và “Khánh tụng điều lệ” (đều năm 1777)…
Trong số các bộ luật nói trên, “Quốc triều hình luật” (còn gọi là Luật Hồng Đức) được đánh giá cao nhất. Bộ luật này không chỉ có nội dung tiến bộ, phản ánh nhiều giá trị nhân văn mà còn được áp dụng trong thời gian rất dài, từ khi ban hành năm 1483 cho đến đầu thế kỷ XIX. Đây được coi là đỉnh cao của hệ thống pháp luật phong kiến Việt Nam, gắn liền với thời kỳ hưng thịnh dưới triều Lê Thánh Tông.
Bên cạnh pháp luật, Hậu Lê cũng nổi bật về hoạt động kinh tế - tiền tệ. Đây là triều đại đúc nhiều loại tiền nhất, với khoảng 40 loại tiền mang niên hiệu của các vua. Trong đó, thời kỳ của Lê Hiển Tông ghi nhận số lượng tiền đúc nhiều nhất, tiêu biểu là các loại tiền mang niên hiệu Cảnh Hưng.
Trong lĩnh vực giáo dục và khoa cử, triều Hậu Lê giữ vị trí hàng đầu khi tổ chức nhiều khoa thi nhất và tuyển chọn được số lượng lớn nhân tài. Trong tổng số 185 khoa thi của lịch sử khoa bảng Việt Nam (1075-1919), riêng triều đại này đã tổ chức tới 98 khoa thi (28 khoa thời Lê sơ và 70 khoa thời Lê Trung Hưng), tuyển chọn 1.732 tiến sĩ. Đặc biệt, dưới thời Lê Thánh Tông, triều đình đã mở 12 khoa thi và lấy đỗ tới 501 tiến sĩ, đánh dấu đỉnh cao của nền giáo dục Nho học.
Không chỉ vậy, Hậu Lê còn là triều đại có số lượng “Tam khôi” (Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa) nhiều nhất. Trong số các danh hiệu còn lưu danh trong lịch sử, triều đại này chiếm tới 26 Trạng nguyên, 28 Bảng nhãn và 41 Thám hoa, cho thấy vai trò nổi bật của thời kỳ này trong việc đào tạo và phát triển đội ngũ trí thức cho đất nước.
---------
Bài viết tham khảo tại:
Những cái nhất của nhà Hậu Lê - Bảo tàng Lịch sử Quốc gia
Lê Đại Hành (941 - 1005), vị vua đầu tiên của nhà Tiền Lê - Bảo tàng Lịch sử Quốc gia
Anh hùng dân tộc Lê Hoàn: Chiến công ghi mãi ngàn năm - Báo Thanh Hóa
---------
Theo nguoiquansat.vn


Xem thêm